This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghị luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghị luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

Những nét khác thường trong ‘Một con người ra đời’ của Macxim Gorki



Những nét khác thường trong ‘Một con người ra đời’ của Macxim Gorki

(Bản dịch của Cao Xuân Hạo – Chương trình Văn học 12 PTTH)

Một bạn đọc hâm mộ hỏi Hêmiguê (Nhà văn Mỹ nổi tiếng 1899 – 1961) về cách rèn luyện tốt nhất để trở thành nhà văn đã nhận được một câu trả lời: “Một tuổi thơ không vui sướng!”. Câu trả lời này có thể đúng với nhiều người, trong đó có nhà văn Macxim Gorki (1899 – 1961), người có công đặt nền móng cho Văn học Xô viết và cũng là nhà văn lớn của thế giới ở thế kỷ XX.

Macxim Gorki có họ tên thật là Alêchxây Măcximôvich Pêscôp, mồ côi cha từ năm lên ba, mồ côi mẹ từ năm lên mười. Cậu bé Pêscôp phải lăn vào trường đời kiếm sống từ năm mẹ mất, đã nếm đủ cảnh đời trái ngang cay đắng gần mười lăm năm. Nói đến nhà Macxim Gorki là phải nhắc đến tư tưởng tin yêu, đề cao, sùng bái con người: Tất cả ở trong con người, tất cả vì con người!... Con người! Tiếng ấy thật tuyệt diệu! Tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và hùng tráng xiết bao! (kịch Dưới đáy). Góp phần hình thành nên tư tưởng lớn lao này chắc chắn có những tháng ngày cậu bé Pêscôp “kiếm sống” thời thơ ấu đã chứng kiến, gặp gỡ và sống với biết bao con người, tuyệt vời cao thượng cũng có, “dưới đáy” của sự khốn nạn đê tiện cũng có.


Chúng tôi muốn bàn về Một con người ra đời được viết năm 1912 (năm nhà văn 44 tuổi), một thiên truyện là bài ca ca ngợi con người rất tiêu biểu cho tư tưởng vĩ đại và phong cách nghệ thuật của nhà văn.


Câu chuyện kể về một người mẹ, trên đường đi kiếm việc làm (trước đó đi đắp đường ở Xukhum nay đến Otsemtsiry tìm việc) nhờ có “tôi” giúp đỡ đã sinh hạ “mẹ tròn con vuông” ra một “công dân Oren”. Đó là câu chuyện về “một đứa trẻ ra đời” hay “Một hài nhi chào đời”. Nhưng đối với Macxim Gorki thì không phải vậy, mà phải là “Một con người ra đời”. Đối với nhà văn, hài nhi kia cũng là Một con người theo nghĩa cao cả đích thực của hai chữ CON NGƯỜI viết hoa. Tên truyện cũng phần nào hé mở tư tưởng tác phẩm. Các chi tiết trong câu chuyện đều là những sự khác thường nhưng đều nhằm mục đích nổi bật tư tưởng cao đẹp về con người.


Chỉ trong 26 dòng văn thơ đầu, tác giả đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt vời, đẹp “một cách lộng lẫy đến hoang đường” (cũng có nghĩa là đẹp một cách khác thường). Chúng tôi cho rằng những dòng văn này đã đạt đến độ mẫu mực cổ điển về phép tả cảnh. Trong văn có họa. Đó là màu sắc đi gam màu sáng tươi tắn: sáng long lanh, trắng xóa, vàng úa, vàng rực, nửa đỏ nửa vàng, xám lam, màu kục… Đó là hình ảnh của dòng sông tung bọt nước, của những tảng đá treo leo, của những cánh chim nhảy nhót, bay lượn, của những rặng cây, của những lá trúc đào ẩn hiện, của những đám mây trườn đi trên triền núi… Trong văn có nhạc. Đó là âm thanh rì rầm của tiếng sóng biển, tiếng xô nhau của những đám bọt nước trên dòng sông Kôđor. Đó là tiếng kêu của chim âu và chim cốc, tiếng gõ của chim gõ kiến… Trong cảnh có vị. Đó là hương vị ngây ngất của một thứ mật ong đặc biệt. Những con ong đã hút từ nhụy hoa nguyệt quế và nhụy hoa đỗ quyên. Theo lời kể chuyện, chất mật ong này “đã từng suýt gây tai họa cho cả một đoàn quân của Pômpê vĩ đại’ vì họ đã ăn thứ mật ong ấy để rồi say mềm ra… Và nhất là trong cảnh có hồn, có tình bởi nhà văn đã nhìn cảnh vật bằng cái nhìn của con người nhìn về con người. Thế cho nên cảnh vật thật sống động, những con chim âu, chim cốc kia cũng biết “mắc cỡ mà kêu lên những tiếng hờn dỗi”, “mấy con sơn tước láu lỉnh”, “bóng mây trườn đi”, “con ong nổi giận”, “những chiếc lá giống như những bàn tay”…


Dường như muốn để bức tranh thiên nhiên đẹp một cách sang trọng, quý phái hơn nhà văn đã không ngần ngại dùng những từ ước lệ cổ điển: “Về mùa thu, cảnh Kapkadơ giống như cảnh một thánh đường tráng lệ dựng nên do những bậc thánh hiền…” hay sử dụng những ẩn dụ cách điệu: “… một ngôi đền mênh mông bằng vàng, bằng ngọc bích, ngọc thạch…”, “treo lên sườn núi những tấm thảm đẹp nhất của người Tuyêcmen dệt bằng lụa tại Xamarkand…”. Nhưng theo tôi, độc đáo nhất là ở cách kiến tạo câu văn theo nguyên tắc “trùng phức hình ảnh”. Trong 26 dòng văn được chia làm 4 đoạn này chỉ có 8 câu văn, cá biệt có một câu hai chữ (Mùa thu) và một câu làm thành cả một đoạn văn (đoạn thứ tư với 138 chữ). Câu văn dài được chia làm nhiều mệnh đề có nhiều hình ảnh dồn dập xuất hiện, hình ảnh nọ chồng lên, nối tiếp, liên tưởng đến hình ảnh kia. Phải chăng nhờ thế mà nhà văn cứ viết như “vẽ” vậy: “Ở bờ bên kia những cành trăn đã trụi hết lá, rũ rượi như một tấm lưới rách, và tựa hồ mắc vào tấm lưới đó một con gõ kiến vùng núi nửa đỏ nửa vàng đang nhảy nhót rối rít, gõ cái mỏ đen vào vỏ thân cây lùa sâu bọ ra, trong khi mấy con sơn tước láu lỉnh và mấy con nhạ núi màu xám lam – những vị khách từ phương bắc xa xôi đến – tha hồ mổ ăn”.


Trong quan niệm của Gorki cái đẹp của thiên nhiên phải thuộc về con người: “Cao cả thay cái chức vị làm người trên trái đất – được thấy bao nhiêu điều kỳ diệu, trái tim được rung động một cách ngọt ngào mãnh liệt biết bao nhiêu trong khi nín lặng chiêm ngưỡng cái đẹp tuyệt vời!”. Đó cũng là hạnh phúc của con người, và đó cũng chính là thiên chức nghệ sĩ của con người. Ở đây có lẽ ta nên hiểu rộng hơn: con người cũng phải biết giữ gìn vẻ đẹp của thiên nhiên để mà thực hiện thiên chức nghệ sĩ của mình. (Thế mà than ôi, ngày nay con người đang từ chối thiên chức vô cùng đẹp đẽ ấy bằng cách vô tình hay cố ý tiếp tay hoặc im lặng trước việc huỷ hoại tàn phá thiên nhiên!).


Đặt trong mối tương quan của cốt truyện ta thắy bức tranh thiên nhiên đẹp một cách “lộng lẫy”, “tráng lệ” kia đóng vai trò làm “nền”, vai trò “bối cảnh” để chuẩn bị cho “một con người ra đời”. Hiểu như vậy ta càng thấy trong tư tưởng của nhà văn, con người thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao!


Thông thường để có một truyện ngắn hay nhà văn phải tìm ra một tình huống hấp dẫn, mới lạ. Tình huống trong Một con người ra đời là một tình huống độc đáo đến mức khác thường: bà đỡ cho ca sinh nở trên đường là một chàng trai trẻ chưa biết tí gì “đến việc đàn bà”, và tất nhiên cũng chẳng có “phương tiện”, “dụng cụ” gì cả? Trước hết nói về người mẹ. Theo tôi, ở người mẹ này có ba điểm khác thường: dũng cảm khác thường, khoẻ mạnh khác thường và một tình yêu con khác thường. “Chị nông dân” ấy vừa có một đại họa: chồng chị vừa chết. Thế là chị đành phải đi cùng một người hàng xóm dến Otsemtsiry. Biết mình sắp “khai hoa” chị tự mình đi tụt lại để tránh phiền họ trong lúc “họ đang say”. Người Việt ta có câu: “Người chửa cửa mả” nghĩa là người chửa thì gần với cái chết. Thế mà chị sẵn sàng chịu đựng một mình trong hoàn cảnh mà cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Đó là sự dũng cảm khác thường. Đẻ xong, chị tự mình đi tắm nước biển rồi sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình đi tới cái vùng đất mà chính chị cũng chưa rõ tên (“tôi” phải nhắc chị: “… Otsemtsiry”). Chính “tôi” cũng phải thốt lên: “Thật khỏe kinh khủng!” (Chú ý cách miêu tả theo khuynh hướng ngợi ca một người mẹ vĩ đại của tác giả: Tôi giúp chị rạch ra cho thằng con đôi vú mà thiên nhiên đã chuẩn bị để nuôi đủ đến hai chục đứa bé…”). Còn tình yêu con khác thường của chị, chúng hãy ta cùng xem nhà văn miêu tả niềm hạnh phúc của người mẹ.


Có lẽ không cần phân tích hình ảnh người mẹ trong cơn đau đẻ vật vã được nhà văn miêu tả với bút pháp hiện thực theo nguyên tắc: ”giống như thật”. Miêu tả niềm hân hoan hạnh phúc của con người, có lẽ đó mới là mục đích nghệ thuật của tác giả. Lúc này ngòi bút của Macxim Gorki thoáng hoạt thật kỳ lạ. Văn học tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây cũng đều có chung một nét thi pháp miêu tả mà thi pháp cổ phương Đông đã khái quát là “vẽ giồng điểm mắt”. Chúng ta dễ thấy để miêu tả niềm hân hoan, tình yêu vô bờ và tâm hồn của người mẹ, nhà văn đã đặc tả nụ cười và đôi mắt. Trong cả câu truyện nụ cười của người mẹ được miêu tả 7 lần, trong đó nụ cười khi nhìn đứa con đã “buộc rốn” là nụ cười tuyệt vời nhất: Nụ cười của chị mỗi lúc một thêm rạng rỡ; nụ cười ấy đẹp đẽ, chói lọi đến nỗi tôi gần như lóa mắt. Lời văn kể sử dụng lối tăng cấp tính chất: một thêm rạng rỡ -> đẹp đẽ -> lóa mắt. Đó là sự ca ngợi người mẹ đến tột đỉnh: đây không đơn thuần là nụ cười của người mẹ mà đó là nụ cười của đấng tạo hóa vĩ đại (thế cho nên “tôi” mới có thể “gần như lóa mắt”).


Còn “đôi mắt” của người mẹ mới thật thiêng liêng, thánh thiện làm sao! Suốt thiên truyện đôi mắt ấy được miêu tả 20 lần (khi đau đẻ được miêu tả 05 lần, sau khi đẻ được miêu tả 15 lần). Đây là một ví dụ:

… tôi thấy rõ đôi mắt sâu thẳm của chị tươi rói lên một cách kỳ lạ, cháy bừng lên một ngọn lửa xanh biếc.

… chị khẽ kêu lên một tiếng, im bặt, rồi lại mở mắt ra, đôi mắt đẹp vô cùng, đôi mắt thần thánh của người sản phụ. Xanh biếc, đôi mắt ấy nhìn lên bầu trời xanh biếc, trong đôi mắt bừng lên và hoà tan một nụ cười hoan hỉ biết ơn…

… mắt như hai hồ nước xanh mênh mông…

… đôi mắt phát ra những luồng ánh sáng ấm áp chan chứa tình thương…

… đôi mắt ấy lại trong trẻo và sáng bừng lên với ngọn lửa biếc của tình thương không bao giờ cạn…

Chúng ta thấy luôn có “một ngọn lửa xanh biếc” trong đôi mắt người mẹ. “Xanh biếc” là màu sắc đặc trưng của mắt người dân Oren, còn ngọn lửa kia, đó là ngọn lửa của niềm hi vọng, của niềm “hoan hỉ biết ơn”, của niềm tin và đặc biệt là của tình thương. Thế cho nên “đôi mắt thần thánh” kia “chốc chốc lại liếc… nhìn thằng dân Oren mới tinh đang ngủ dưới bụi cây”.


Trong cuộc sinh nở khác thường ấy không thể không nhắc đến “đấng người đỏ hỏng: cũng thật khác thường kia. Vừa mới chào đời nó đã “Siết chặt nắm tay và cứ thế mà gào mãi, như thể thách ai đánh nhau: ya – a… ya – a”. Dường như nó đã “ý thức được sự làm chủ chính bản thân nó khi xưng “tôi”, “tao” (nhà văn chơi chữ, trong tiếng Nga “Ya” có nghĩa là “tôi, “tao”). Nó được tắm bằng nước biển và biển “vui vẻ” phả bọt lên người nó. Đúng là qua cách miêu tả này đã cho thấy “nó” không phải là một đứa trẻ mà là một “đấng người” thật đáng kính trọng “chưa chi đã bất mãn với cuộc đời” mà “hét tướng lên” và “cứ thế mà gào mãi, như thách thức ai đánh nhau”, khi hết “hung hăng” thì ngủ và gáy một cách “dõng dạc”.


Còn “tôi”, cũng thật khác thường. Với “tư cách” là một “bà đỡ” bất đắc dĩ mà “tôi” lại làm thật tốt một công việc hoàn toàn lạ lẫm. Đây không hề phải là vấn đề “tay nghề”, “cách thức” hay “thao tác” mà điều quyết định là ở tình thương con người thật lớn lao, cao cả, thiêng liêng! “Tôi” vượt qua sự ngượng ngiụ, sự xỉ vả và hành động phản ứng “đánh vào mặt, vào ngực tôi” của người sản phụ, để… đỡ đẻ. Đón một “đấng người” ra đời, “tôi” quỳ gối lên, nhìn nó mà cười lớn…”. Hành động “quỳ gối” này có gì đấy gần giống với tư tưởng của Lỗ Tấn: Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng. Nhưng hành động lấy răng mình để “cắt” rốn (“tôi” đành lấy răng cắn rốn) mới là hành động thể hiện rõ nhất, cao nhất tình yêu thương quý trọng con người, “tất cả vì con người”…


Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn là sự khác thường. Ta có thể coi Một con người ra đời của Macxim Gorki là một câu chuyện đậm chất lãng mạn. Chất lãng mạn đã chấp thêm cánh cho hình tượng con người trong sáng tác của Gorki thêm bay cao bay xa trong bầu trời của tự do, của ước mơ, của cái đẹp, cái thiện. Thế cho nên tác phẩm thì khép lại về mặt câu chữ nhưng lại mở ra cuộc hành trình của một cuộc đời đi tìm cuộc sống mới.



NGUYỄN THANH HÀ

(Theo Van nghe quan doi)

Những nét khác thường trong ‘Một con người ra đời’ của Macxim Gorki



Những nét khác thường trong ‘Một con người ra đời’ của Macxim Gorki

(Bản dịch của Cao Xuân Hạo – Chương trình Văn học 12 PTTH)

Một bạn đọc hâm mộ hỏi Hêmiguê (Nhà văn Mỹ nổi tiếng 1899 – 1961) về cách rèn luyện tốt nhất để trở thành nhà văn đã nhận được một câu trả lời: “Một tuổi thơ không vui sướng!”. Câu trả lời này có thể đúng với nhiều người, trong đó có nhà văn Macxim Gorki (1899 – 1961), người có công đặt nền móng cho Văn học Xô viết và cũng là nhà văn lớn của thế giới ở thế kỷ XX.

Macxim Gorki có họ tên thật là Alêchxây Măcximôvich Pêscôp, mồ côi cha từ năm lên ba, mồ côi mẹ từ năm lên mười. Cậu bé Pêscôp phải lăn vào trường đời kiếm sống từ năm mẹ mất, đã nếm đủ cảnh đời trái ngang cay đắng gần mười lăm năm. Nói đến nhà Macxim Gorki là phải nhắc đến tư tưởng tin yêu, đề cao, sùng bái con người: Tất cả ở trong con người, tất cả vì con người!... Con người! Tiếng ấy thật tuyệt diệu! Tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và hùng tráng xiết bao! (kịch Dưới đáy). Góp phần hình thành nên tư tưởng lớn lao này chắc chắn có những tháng ngày cậu bé Pêscôp “kiếm sống” thời thơ ấu đã chứng kiến, gặp gỡ và sống với biết bao con người, tuyệt vời cao thượng cũng có, “dưới đáy” của sự khốn nạn đê tiện cũng có.


Chúng tôi muốn bàn về Một con người ra đời được viết năm 1912 (năm nhà văn 44 tuổi), một thiên truyện là bài ca ca ngợi con người rất tiêu biểu cho tư tưởng vĩ đại và phong cách nghệ thuật của nhà văn.


Câu chuyện kể về một người mẹ, trên đường đi kiếm việc làm (trước đó đi đắp đường ở Xukhum nay đến Otsemtsiry tìm việc) nhờ có “tôi” giúp đỡ đã sinh hạ “mẹ tròn con vuông” ra một “công dân Oren”. Đó là câu chuyện về “một đứa trẻ ra đời” hay “Một hài nhi chào đời”. Nhưng đối với Macxim Gorki thì không phải vậy, mà phải là “Một con người ra đời”. Đối với nhà văn, hài nhi kia cũng là Một con người theo nghĩa cao cả đích thực của hai chữ CON NGƯỜI viết hoa. Tên truyện cũng phần nào hé mở tư tưởng tác phẩm. Các chi tiết trong câu chuyện đều là những sự khác thường nhưng đều nhằm mục đích nổi bật tư tưởng cao đẹp về con người.


Chỉ trong 26 dòng văn thơ đầu, tác giả đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt vời, đẹp “một cách lộng lẫy đến hoang đường” (cũng có nghĩa là đẹp một cách khác thường). Chúng tôi cho rằng những dòng văn này đã đạt đến độ mẫu mực cổ điển về phép tả cảnh. Trong văn có họa. Đó là màu sắc đi gam màu sáng tươi tắn: sáng long lanh, trắng xóa, vàng úa, vàng rực, nửa đỏ nửa vàng, xám lam, màu kục… Đó là hình ảnh của dòng sông tung bọt nước, của những tảng đá treo leo, của những cánh chim nhảy nhót, bay lượn, của những rặng cây, của những lá trúc đào ẩn hiện, của những đám mây trườn đi trên triền núi… Trong văn có nhạc. Đó là âm thanh rì rầm của tiếng sóng biển, tiếng xô nhau của những đám bọt nước trên dòng sông Kôđor. Đó là tiếng kêu của chim âu và chim cốc, tiếng gõ của chim gõ kiến… Trong cảnh có vị. Đó là hương vị ngây ngất của một thứ mật ong đặc biệt. Những con ong đã hút từ nhụy hoa nguyệt quế và nhụy hoa đỗ quyên. Theo lời kể chuyện, chất mật ong này “đã từng suýt gây tai họa cho cả một đoàn quân của Pômpê vĩ đại’ vì họ đã ăn thứ mật ong ấy để rồi say mềm ra… Và nhất là trong cảnh có hồn, có tình bởi nhà văn đã nhìn cảnh vật bằng cái nhìn của con người nhìn về con người. Thế cho nên cảnh vật thật sống động, những con chim âu, chim cốc kia cũng biết “mắc cỡ mà kêu lên những tiếng hờn dỗi”, “mấy con sơn tước láu lỉnh”, “bóng mây trườn đi”, “con ong nổi giận”, “những chiếc lá giống như những bàn tay”…


Dường như muốn để bức tranh thiên nhiên đẹp một cách sang trọng, quý phái hơn nhà văn đã không ngần ngại dùng những từ ước lệ cổ điển: “Về mùa thu, cảnh Kapkadơ giống như cảnh một thánh đường tráng lệ dựng nên do những bậc thánh hiền…” hay sử dụng những ẩn dụ cách điệu: “… một ngôi đền mênh mông bằng vàng, bằng ngọc bích, ngọc thạch…”, “treo lên sườn núi những tấm thảm đẹp nhất của người Tuyêcmen dệt bằng lụa tại Xamarkand…”. Nhưng theo tôi, độc đáo nhất là ở cách kiến tạo câu văn theo nguyên tắc “trùng phức hình ảnh”. Trong 26 dòng văn được chia làm 4 đoạn này chỉ có 8 câu văn, cá biệt có một câu hai chữ (Mùa thu) và một câu làm thành cả một đoạn văn (đoạn thứ tư với 138 chữ). Câu văn dài được chia làm nhiều mệnh đề có nhiều hình ảnh dồn dập xuất hiện, hình ảnh nọ chồng lên, nối tiếp, liên tưởng đến hình ảnh kia. Phải chăng nhờ thế mà nhà văn cứ viết như “vẽ” vậy: “Ở bờ bên kia những cành trăn đã trụi hết lá, rũ rượi như một tấm lưới rách, và tựa hồ mắc vào tấm lưới đó một con gõ kiến vùng núi nửa đỏ nửa vàng đang nhảy nhót rối rít, gõ cái mỏ đen vào vỏ thân cây lùa sâu bọ ra, trong khi mấy con sơn tước láu lỉnh và mấy con nhạ núi màu xám lam – những vị khách từ phương bắc xa xôi đến – tha hồ mổ ăn”.


Trong quan niệm của Gorki cái đẹp của thiên nhiên phải thuộc về con người: “Cao cả thay cái chức vị làm người trên trái đất – được thấy bao nhiêu điều kỳ diệu, trái tim được rung động một cách ngọt ngào mãnh liệt biết bao nhiêu trong khi nín lặng chiêm ngưỡng cái đẹp tuyệt vời!”. Đó cũng là hạnh phúc của con người, và đó cũng chính là thiên chức nghệ sĩ của con người. Ở đây có lẽ ta nên hiểu rộng hơn: con người cũng phải biết giữ gìn vẻ đẹp của thiên nhiên để mà thực hiện thiên chức nghệ sĩ của mình. (Thế mà than ôi, ngày nay con người đang từ chối thiên chức vô cùng đẹp đẽ ấy bằng cách vô tình hay cố ý tiếp tay hoặc im lặng trước việc huỷ hoại tàn phá thiên nhiên!).


Đặt trong mối tương quan của cốt truyện ta thắy bức tranh thiên nhiên đẹp một cách “lộng lẫy”, “tráng lệ” kia đóng vai trò làm “nền”, vai trò “bối cảnh” để chuẩn bị cho “một con người ra đời”. Hiểu như vậy ta càng thấy trong tư tưởng của nhà văn, con người thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao!


Thông thường để có một truyện ngắn hay nhà văn phải tìm ra một tình huống hấp dẫn, mới lạ. Tình huống trong Một con người ra đời là một tình huống độc đáo đến mức khác thường: bà đỡ cho ca sinh nở trên đường là một chàng trai trẻ chưa biết tí gì “đến việc đàn bà”, và tất nhiên cũng chẳng có “phương tiện”, “dụng cụ” gì cả? Trước hết nói về người mẹ. Theo tôi, ở người mẹ này có ba điểm khác thường: dũng cảm khác thường, khoẻ mạnh khác thường và một tình yêu con khác thường. “Chị nông dân” ấy vừa có một đại họa: chồng chị vừa chết. Thế là chị đành phải đi cùng một người hàng xóm dến Otsemtsiry. Biết mình sắp “khai hoa” chị tự mình đi tụt lại để tránh phiền họ trong lúc “họ đang say”. Người Việt ta có câu: “Người chửa cửa mả” nghĩa là người chửa thì gần với cái chết. Thế mà chị sẵn sàng chịu đựng một mình trong hoàn cảnh mà cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào. Đó là sự dũng cảm khác thường. Đẻ xong, chị tự mình đi tắm nước biển rồi sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình đi tới cái vùng đất mà chính chị cũng chưa rõ tên (“tôi” phải nhắc chị: “… Otsemtsiry”). Chính “tôi” cũng phải thốt lên: “Thật khỏe kinh khủng!” (Chú ý cách miêu tả theo khuynh hướng ngợi ca một người mẹ vĩ đại của tác giả: Tôi giúp chị rạch ra cho thằng con đôi vú mà thiên nhiên đã chuẩn bị để nuôi đủ đến hai chục đứa bé…”). Còn tình yêu con khác thường của chị, chúng hãy ta cùng xem nhà văn miêu tả niềm hạnh phúc của người mẹ.


Có lẽ không cần phân tích hình ảnh người mẹ trong cơn đau đẻ vật vã được nhà văn miêu tả với bút pháp hiện thực theo nguyên tắc: ”giống như thật”. Miêu tả niềm hân hoan hạnh phúc của con người, có lẽ đó mới là mục đích nghệ thuật của tác giả. Lúc này ngòi bút của Macxim Gorki thoáng hoạt thật kỳ lạ. Văn học tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây cũng đều có chung một nét thi pháp miêu tả mà thi pháp cổ phương Đông đã khái quát là “vẽ giồng điểm mắt”. Chúng ta dễ thấy để miêu tả niềm hân hoan, tình yêu vô bờ và tâm hồn của người mẹ, nhà văn đã đặc tả nụ cười và đôi mắt. Trong cả câu truyện nụ cười của người mẹ được miêu tả 7 lần, trong đó nụ cười khi nhìn đứa con đã “buộc rốn” là nụ cười tuyệt vời nhất: Nụ cười của chị mỗi lúc một thêm rạng rỡ; nụ cười ấy đẹp đẽ, chói lọi đến nỗi tôi gần như lóa mắt. Lời văn kể sử dụng lối tăng cấp tính chất: một thêm rạng rỡ -> đẹp đẽ -> lóa mắt. Đó là sự ca ngợi người mẹ đến tột đỉnh: đây không đơn thuần là nụ cười của người mẹ mà đó là nụ cười của đấng tạo hóa vĩ đại (thế cho nên “tôi” mới có thể “gần như lóa mắt”).


Còn “đôi mắt” của người mẹ mới thật thiêng liêng, thánh thiện làm sao! Suốt thiên truyện đôi mắt ấy được miêu tả 20 lần (khi đau đẻ được miêu tả 05 lần, sau khi đẻ được miêu tả 15 lần). Đây là một ví dụ:

… tôi thấy rõ đôi mắt sâu thẳm của chị tươi rói lên một cách kỳ lạ, cháy bừng lên một ngọn lửa xanh biếc.

… chị khẽ kêu lên một tiếng, im bặt, rồi lại mở mắt ra, đôi mắt đẹp vô cùng, đôi mắt thần thánh của người sản phụ. Xanh biếc, đôi mắt ấy nhìn lên bầu trời xanh biếc, trong đôi mắt bừng lên và hoà tan một nụ cười hoan hỉ biết ơn…

… mắt như hai hồ nước xanh mênh mông…

… đôi mắt phát ra những luồng ánh sáng ấm áp chan chứa tình thương…

… đôi mắt ấy lại trong trẻo và sáng bừng lên với ngọn lửa biếc của tình thương không bao giờ cạn…

Chúng ta thấy luôn có “một ngọn lửa xanh biếc” trong đôi mắt người mẹ. “Xanh biếc” là màu sắc đặc trưng của mắt người dân Oren, còn ngọn lửa kia, đó là ngọn lửa của niềm hi vọng, của niềm “hoan hỉ biết ơn”, của niềm tin và đặc biệt là của tình thương. Thế cho nên “đôi mắt thần thánh” kia “chốc chốc lại liếc… nhìn thằng dân Oren mới tinh đang ngủ dưới bụi cây”.


Trong cuộc sinh nở khác thường ấy không thể không nhắc đến “đấng người đỏ hỏng: cũng thật khác thường kia. Vừa mới chào đời nó đã “Siết chặt nắm tay và cứ thế mà gào mãi, như thể thách ai đánh nhau: ya – a… ya – a”. Dường như nó đã “ý thức được sự làm chủ chính bản thân nó khi xưng “tôi”, “tao” (nhà văn chơi chữ, trong tiếng Nga “Ya” có nghĩa là “tôi, “tao”). Nó được tắm bằng nước biển và biển “vui vẻ” phả bọt lên người nó. Đúng là qua cách miêu tả này đã cho thấy “nó” không phải là một đứa trẻ mà là một “đấng người” thật đáng kính trọng “chưa chi đã bất mãn với cuộc đời” mà “hét tướng lên” và “cứ thế mà gào mãi, như thách thức ai đánh nhau”, khi hết “hung hăng” thì ngủ và gáy một cách “dõng dạc”.


Còn “tôi”, cũng thật khác thường. Với “tư cách” là một “bà đỡ” bất đắc dĩ mà “tôi” lại làm thật tốt một công việc hoàn toàn lạ lẫm. Đây không hề phải là vấn đề “tay nghề”, “cách thức” hay “thao tác” mà điều quyết định là ở tình thương con người thật lớn lao, cao cả, thiêng liêng! “Tôi” vượt qua sự ngượng ngiụ, sự xỉ vả và hành động phản ứng “đánh vào mặt, vào ngực tôi” của người sản phụ, để… đỡ đẻ. Đón một “đấng người” ra đời, “tôi” quỳ gối lên, nhìn nó mà cười lớn…”. Hành động “quỳ gối” này có gì đấy gần giống với tư tưởng của Lỗ Tấn: Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng. Nhưng hành động lấy răng mình để “cắt” rốn (“tôi” đành lấy răng cắn rốn) mới là hành động thể hiện rõ nhất, cao nhất tình yêu thương quý trọng con người, “tất cả vì con người”…


Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn là sự khác thường. Ta có thể coi Một con người ra đời của Macxim Gorki là một câu chuyện đậm chất lãng mạn. Chất lãng mạn đã chấp thêm cánh cho hình tượng con người trong sáng tác của Gorki thêm bay cao bay xa trong bầu trời của tự do, của ước mơ, của cái đẹp, cái thiện. Thế cho nên tác phẩm thì khép lại về mặt câu chữ nhưng lại mở ra cuộc hành trình của một cuộc đời đi tìm cuộc sống mới.



NGUYỄN THANH HÀ

(Theo Van nghe quan doi)

Phân tích truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn


truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn



1- Tác giả Lỗ Tấn.

Lỗ Tấn ( 1881-1936 ) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người cha lâm bệnh mà chết vì không có thuốc, Lỗ Tấn ôm ấp nguyện vọng học nghề thuốc, để chữa bệnh cho những người nghèo như cha mình.

- Tuổi trẻ Lỗ Tấn nhiều lần đổi nghề để tìm con đường cống hiến cho dân tộc: nghề hàng hải, khai mỏ rồi chuyển sang nghề y. Đang học nghành y ở Nhật, một lần xem phim ông thấy những người Trung Quốc khoẻ mạnh hớn hở đi xem quân Nhật chém một người Trung Quốc chống Nhật. Ông giật mình nhận ra rằng: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Và thế là ông chuyển sang làm văn nghệ để phanh phui căn bệnh tinh thần của quốc dân, lưu ý mọi người tìm cách chạy chữa. Con đường gian nan chọn nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn của lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại vừa nói lên tâm huyết của Lỗ Tấn với dân tộc.

Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc đầu thế kỉ XX: “Trước Lỗ Tấn , chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn, có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạc Nhược ). Ông được tôn vinh là linh hồn dân tộc. Ông chuyên vạch trần những thói hư tật xấu của nhân dân để mọi người tìm cách chạy chữa, tự phấn đấu vươn lên, tự cường dân tộc. Tác phẩm chính của Lỗ Tấn là AQ chính truyện, Cố hương…

2- Tác phẩm:

a-Hoàn cảnh ra đời: Truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ Tứ ( Phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ của học sinh, sinh viên Bắc Kinh ) bùng nổ.

b-Tóm tắt tác phẩm:
Một đêm mùa thu gần về sáng, Lão Hoa đem số tiền vợ chồng dành dụm được ra pháp trường, gặp đao phủ mua một cái bánh tẩm máu tử tù về cho thằng Thuyên ,con trai lão ăn để chữa bệnh lao. (Mua thuốc, uống thuốc )(người kể chuyện là lão Hoa)

Trời sáng, quán trà của vợ chồng lão Hoa đông khách dần , mọi người bàn tán về cái chết của tử tù. Tử tù là Hạ Du, một người cách mạng bị xử chém vì chống Nhật. Mọi người cho Hạ Du là thằng điên, thằng khốn nạn và khen Cụ Ba là khôn vì đã tố cáo cháu mình để lấy tiền thưởng. Họ cũng cho vợ chồng lão Hoa là may vì tìm được máu để tẩm bánh bao làm thuốc (bàn về thuốc). (người kể chuyện biết tuốt)

Tiết thanh minh vào mùa xuân năm sau, bà Hoa đi thăm mộ con ( thằng Thuyên vẫn chết vì bệnh lao dù đã ăn bánh bao tẩm máu người). Bà gặp bà mẹ của Hạ Du. Mẹ Hạ Du lúc đầu còn ngại ngùng, nhưng sau đó bà Hoa đã bước qua ranh giới phân chia khu nghĩa địa dành cho dành cho người nghèo sang khu dành cho ngưòi chết chém để an ủi mẹ Hạ Du. Cả hai bà mẹ đều hết sức kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa (hậu quả của thuốc). (người kể chuyện là bà Hoa)

II – Phân tích :

1-Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người:
Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa.

-Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh, chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.

-Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn, đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác. Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.

-Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ. Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước, cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng.

Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại: nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”.

2- Các nhân vật:

a-Hình ảnh đám đông quần chúng:

-Buổi sáng sớm, ở pháp trường, lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù về chữa bệnh cho con thì bị một đám đông xô đẩy nhau ào ào, chen bật lão suýt ngã. Đó là những người đi xem hành hình nhà cách mạng Hạ Du. Đám đông này khiến ta liên tưởng đến đám đông đi xem hành hình một người Trung Quốc chống Nhật khiến Lỗ Tấn đi đến quyết định: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân.

-Khi trời sáng hẳn, ở quán trà đã đông khách của lão Hoa, Cậu Năm Gù, Cả Khang ,người râu hoa râm… cùng bàn tán về cái chết của Hạ Du với thái độ miệt thị. Họ cho anh là cái “thằng khốn nạn”, “hắn điên thật rồi”. Và họ cho rằng trong cái chết của Hạ Du có hai người gặp may. May nhất là Cụ Ba nhờ tố cáo cháu mình nên được thưởng một số tiền lớn mà gia đình khỏi bị liên luỵ, còn lão Hoa thì có máu Hạ Du để chấm bánh bao làm thuốc chữa bệnh cho thằng Thuyên.

Tóm lại, qua hai sự việc trên, và bằng ngôn ngữ của người kể chuyện, ta thấy đám đông quần chúng thật là mê muội. Sự hiểu biết và thái độ của họ về những vấn đề của đất nước, về bệnh tật, về cuộc đời còn quá hạn chế. Nói như Lỗ Tấn thì họ đang “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ. Phải làm thế nào đó để thức tỉnh họ. Ta cũng thấy nhân vật Hạ Du là một người yêu nước nhưng anh cũng thật cô đơn.

b-Nhân vật Hạ Du:

Nhân vật Hạ Du không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà được giới thiệu thông qua các nhân vật khác và qua thái độ của người kể chuyện.
Hạ Du là một người yêu nước, một nhà cách mạng tiên phong, dũng cảm xả thân vì nghĩa lớn.

Nhưng anh rất cô đơn, không ai hiểu anh kể cả mẹ anh. Anh đã đổ máu vì quần chúng thế mà họ lại lấy máu anh để tẩm bánh bao chữa bệnh lao.

Hạ Du chính là hình ảnh tượng trưng của cuộc cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng góp phần đánh đổ chế độ phong kiến Trung Quốc nhưng lại xa rời quần chúng nên thất bại. Qua hình tượng Hạ Du, Lỗ Tấn muốn bày tỏ lòng kính trọng với cuộc cách mạng này.

3-Cảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con:

-Thời gian nghệ thuật của truyện tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con. Cái chết của hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng. Thời gian nghệ thuật đã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả.

-Nghĩa địa của làng mộ dày khít như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ, có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải. Con đường mòn là biểu tượng cho một tập quán xấu đã trở thành thói quen. Hai bà mẹ đã bước qua con đường mòn để đến gặp nhau vì đồng cảm ở tình thương con sâu sắc.

-Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa: “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Bà mẹ Hạ Du cứ lẩm bẩm câu hỏi “Thế này là thế nào?”. Câu hỏi vừa hàm chứa sự sửng sốt, vừa ẩn giấu niềm vui vì có người đã hiểu con mình. Đồng thời đã là câu hỏi thì đòi hỏi có câu trả lời. Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong.

2- Đặc sắc nghệ thuật:

-Truyện có lối viết cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng (chiếc bánh bao tẩm máu, vòng hoa, con đường mòn…)

-Cách xây dựng nhân vật cũng rất đặc biệt: không đặt nhân vật cách mạng vào vị trí chủ yếu mà đặt ở tuyến ngầm phía sau nhân vật đám đông để khắc hoạ chủ đề thức tỉnh quần chúng của truyện.

-Cách kể chuyện theo ngôi thứ ba truyền thống nhưng nhiều đoạn đã chuyển điểm nhìn trần thuật sang nhân vật làm cho truyện sinh động và giàu chất trữ tình hơn. 


ST

Phân tích truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn


truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn



1- Tác giả Lỗ Tấn.

Lỗ Tấn ( 1881-1936 ) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người cha lâm bệnh mà chết vì không có thuốc, Lỗ Tấn ôm ấp nguyện vọng học nghề thuốc, để chữa bệnh cho những người nghèo như cha mình.

- Tuổi trẻ Lỗ Tấn nhiều lần đổi nghề để tìm con đường cống hiến cho dân tộc: nghề hàng hải, khai mỏ rồi chuyển sang nghề y. Đang học nghành y ở Nhật, một lần xem phim ông thấy những người Trung Quốc khoẻ mạnh hớn hở đi xem quân Nhật chém một người Trung Quốc chống Nhật. Ông giật mình nhận ra rằng: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Và thế là ông chuyển sang làm văn nghệ để phanh phui căn bệnh tinh thần của quốc dân, lưu ý mọi người tìm cách chạy chữa. Con đường gian nan chọn nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn của lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại vừa nói lên tâm huyết của Lỗ Tấn với dân tộc.

Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc đầu thế kỉ XX: “Trước Lỗ Tấn , chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn, có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạc Nhược ). Ông được tôn vinh là linh hồn dân tộc. Ông chuyên vạch trần những thói hư tật xấu của nhân dân để mọi người tìm cách chạy chữa, tự phấn đấu vươn lên, tự cường dân tộc. Tác phẩm chính của Lỗ Tấn là AQ chính truyện, Cố hương…

2- Tác phẩm:

a-Hoàn cảnh ra đời: Truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ Tứ ( Phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ của học sinh, sinh viên Bắc Kinh ) bùng nổ.

b-Tóm tắt tác phẩm:
Một đêm mùa thu gần về sáng, Lão Hoa đem số tiền vợ chồng dành dụm được ra pháp trường, gặp đao phủ mua một cái bánh tẩm máu tử tù về cho thằng Thuyên ,con trai lão ăn để chữa bệnh lao. (Mua thuốc, uống thuốc )(người kể chuyện là lão Hoa)

Trời sáng, quán trà của vợ chồng lão Hoa đông khách dần , mọi người bàn tán về cái chết của tử tù. Tử tù là Hạ Du, một người cách mạng bị xử chém vì chống Nhật. Mọi người cho Hạ Du là thằng điên, thằng khốn nạn và khen Cụ Ba là khôn vì đã tố cáo cháu mình để lấy tiền thưởng. Họ cũng cho vợ chồng lão Hoa là may vì tìm được máu để tẩm bánh bao làm thuốc (bàn về thuốc). (người kể chuyện biết tuốt)

Tiết thanh minh vào mùa xuân năm sau, bà Hoa đi thăm mộ con ( thằng Thuyên vẫn chết vì bệnh lao dù đã ăn bánh bao tẩm máu người). Bà gặp bà mẹ của Hạ Du. Mẹ Hạ Du lúc đầu còn ngại ngùng, nhưng sau đó bà Hoa đã bước qua ranh giới phân chia khu nghĩa địa dành cho dành cho người nghèo sang khu dành cho ngưòi chết chém để an ủi mẹ Hạ Du. Cả hai bà mẹ đều hết sức kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa (hậu quả của thuốc). (người kể chuyện là bà Hoa)

II – Phân tích :

1-Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người:
Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa.

-Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh, chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.

-Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn, đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác. Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.

-Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ. Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước, cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng.

Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại: nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”.

2- Các nhân vật:

a-Hình ảnh đám đông quần chúng:

-Buổi sáng sớm, ở pháp trường, lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù về chữa bệnh cho con thì bị một đám đông xô đẩy nhau ào ào, chen bật lão suýt ngã. Đó là những người đi xem hành hình nhà cách mạng Hạ Du. Đám đông này khiến ta liên tưởng đến đám đông đi xem hành hình một người Trung Quốc chống Nhật khiến Lỗ Tấn đi đến quyết định: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân.

-Khi trời sáng hẳn, ở quán trà đã đông khách của lão Hoa, Cậu Năm Gù, Cả Khang ,người râu hoa râm… cùng bàn tán về cái chết của Hạ Du với thái độ miệt thị. Họ cho anh là cái “thằng khốn nạn”, “hắn điên thật rồi”. Và họ cho rằng trong cái chết của Hạ Du có hai người gặp may. May nhất là Cụ Ba nhờ tố cáo cháu mình nên được thưởng một số tiền lớn mà gia đình khỏi bị liên luỵ, còn lão Hoa thì có máu Hạ Du để chấm bánh bao làm thuốc chữa bệnh cho thằng Thuyên.

Tóm lại, qua hai sự việc trên, và bằng ngôn ngữ của người kể chuyện, ta thấy đám đông quần chúng thật là mê muội. Sự hiểu biết và thái độ của họ về những vấn đề của đất nước, về bệnh tật, về cuộc đời còn quá hạn chế. Nói như Lỗ Tấn thì họ đang “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ. Phải làm thế nào đó để thức tỉnh họ. Ta cũng thấy nhân vật Hạ Du là một người yêu nước nhưng anh cũng thật cô đơn.

b-Nhân vật Hạ Du:

Nhân vật Hạ Du không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà được giới thiệu thông qua các nhân vật khác và qua thái độ của người kể chuyện.
Hạ Du là một người yêu nước, một nhà cách mạng tiên phong, dũng cảm xả thân vì nghĩa lớn.

Nhưng anh rất cô đơn, không ai hiểu anh kể cả mẹ anh. Anh đã đổ máu vì quần chúng thế mà họ lại lấy máu anh để tẩm bánh bao chữa bệnh lao.

Hạ Du chính là hình ảnh tượng trưng của cuộc cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng góp phần đánh đổ chế độ phong kiến Trung Quốc nhưng lại xa rời quần chúng nên thất bại. Qua hình tượng Hạ Du, Lỗ Tấn muốn bày tỏ lòng kính trọng với cuộc cách mạng này.

3-Cảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con:

-Thời gian nghệ thuật của truyện tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con. Cái chết của hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng. Thời gian nghệ thuật đã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả.

-Nghĩa địa của làng mộ dày khít như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ, có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải. Con đường mòn là biểu tượng cho một tập quán xấu đã trở thành thói quen. Hai bà mẹ đã bước qua con đường mòn để đến gặp nhau vì đồng cảm ở tình thương con sâu sắc.

-Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa: “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Bà mẹ Hạ Du cứ lẩm bẩm câu hỏi “Thế này là thế nào?”. Câu hỏi vừa hàm chứa sự sửng sốt, vừa ẩn giấu niềm vui vì có người đã hiểu con mình. Đồng thời đã là câu hỏi thì đòi hỏi có câu trả lời. Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong.

2- Đặc sắc nghệ thuật:

-Truyện có lối viết cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng (chiếc bánh bao tẩm máu, vòng hoa, con đường mòn…)

-Cách xây dựng nhân vật cũng rất đặc biệt: không đặt nhân vật cách mạng vào vị trí chủ yếu mà đặt ở tuyến ngầm phía sau nhân vật đám đông để khắc hoạ chủ đề thức tỉnh quần chúng của truyện.

-Cách kể chuyện theo ngôi thứ ba truyền thống nhưng nhiều đoạn đã chuyển điểm nhìn trần thuật sang nhân vật làm cho truyện sinh động và giàu chất trữ tình hơn. 


ST

Tóm tắt tắc tác phẩm Ông Già Và Biển Cả

Tóm tắt nội dung

Ông Già Và Biển Cả thuật lại một câu chuyện xảy ra ở bờ biển Nam Mỹ, ngoài khơi hải đảo Cuba. Ông lão đánh cá Xăngchiagô (Santiago) đã già lắm rồi. Ông mơ ước đánh được một mẻ cá lớn, xứng đáng với uy danh một thời của ông ngày còn trai trẻ. Một mình một con thuyền ông ra khơi quyết lập một chiến công rạng rỡ cuối cùng. Trải qua nhiều ngày lênh đênh mặt bể, gian nan, vất vả, ông lão đánh được một con cá lớn chưa từng thấy. Nhưng sau đó, trên đường về, ông bị nhiều đàn cá mập kéo đến vây quanh con cá ông vừa đánh được để ăn thịt. Ông lão đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập. Nhưng thật đau đớn! Sau khi đuổi được chúng đi, ông lão nhìn lại con cá của mình thì thấy nó chỉ còn có bộ xương. Ông lão lại trở về túp lều nghèo nàn của mình. Tủi nhục, đau xót, nhưng trong lòng ông vẫn chưa hết hẳn những ước mơ đẹp đẽ...
Với một nội dung tưởng chừng như đơn giản ấy, thiên tiểu thuyết này đã nêu lên được những nét rất sâu sắc và cảm động về sức mạnh và khát vọng của con người.Ông Già Và Biển Cả mang một phong cách độc đáo, giàu chất thơ và triết lý gợi cho người đọc suy nghĩ đến nhiều vấn đề lớn về cuộc sống và về số phận của con người trong cái xã hội còn có những ông già đánh cá sống nghèo đói và cô độc như ông lão Xăngchiagô.
Sách được dịch theo nguyên bản tiếng Pháp: LE VIEIL HOMME ET LA MER của Jean Dutourd - Nhà xuất bản Gallimard, Paris - có đối chiếu với nguyên văn.

ST .

Tóm tắt tắc tác phẩm Ông Già Và Biển Cả

Tóm tắt nội dung

Ông Già Và Biển Cả thuật lại một câu chuyện xảy ra ở bờ biển Nam Mỹ, ngoài khơi hải đảo Cuba. Ông lão đánh cá Xăngchiagô (Santiago) đã già lắm rồi. Ông mơ ước đánh được một mẻ cá lớn, xứng đáng với uy danh một thời của ông ngày còn trai trẻ. Một mình một con thuyền ông ra khơi quyết lập một chiến công rạng rỡ cuối cùng. Trải qua nhiều ngày lênh đênh mặt bể, gian nan, vất vả, ông lão đánh được một con cá lớn chưa từng thấy. Nhưng sau đó, trên đường về, ông bị nhiều đàn cá mập kéo đến vây quanh con cá ông vừa đánh được để ăn thịt. Ông lão đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập. Nhưng thật đau đớn! Sau khi đuổi được chúng đi, ông lão nhìn lại con cá của mình thì thấy nó chỉ còn có bộ xương. Ông lão lại trở về túp lều nghèo nàn của mình. Tủi nhục, đau xót, nhưng trong lòng ông vẫn chưa hết hẳn những ước mơ đẹp đẽ...
Với một nội dung tưởng chừng như đơn giản ấy, thiên tiểu thuyết này đã nêu lên được những nét rất sâu sắc và cảm động về sức mạnh và khát vọng của con người.Ông Già Và Biển Cả mang một phong cách độc đáo, giàu chất thơ và triết lý gợi cho người đọc suy nghĩ đến nhiều vấn đề lớn về cuộc sống và về số phận của con người trong cái xã hội còn có những ông già đánh cá sống nghèo đói và cô độc như ông lão Xăngchiagô.
Sách được dịch theo nguyên bản tiếng Pháp: LE VIEIL HOMME ET LA MER của Jean Dutourd - Nhà xuất bản Gallimard, Paris - có đối chiếu với nguyên văn.

ST .

Hêminguây - Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”



Hêminguây - Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”


Vài nét về tác giả 


Hêminguây (1899 – 1961) là văn hào Mĩ, được Giải thưởng Nobel về văn chương năm 1954. Từng tham gia Thế chiến I, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha và Thế chiến II với tư cách là người lính, là phóng viên mặt trận. Ông để lại dấu ấn trong cả 3 thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch.

Có tác phẩm nói lên tâm trạng một thế hệ thanh niên trong và sau chiến tranh như “Giã từ vũ khí”. Có tác phẩm kể chuyện săn bắn, đấu bò như “Chết vào buổi chiều”, “Những ngọn đồi xanh châu Phi”,… Với 2 kiệt tác “Chuông nguyện hồn ai”, “Ông già và biển cả”, tên tuổi Hêminguây lừng danh trên thế giới.

Văn phong của Hêminguây giản dị, trong sáng, ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc về thế giới tự nhiên và con người. chất liệu sống ngồn ngộn, độc thoại nội tâm, tình huống biến hóa, căng thẳng, đa nghĩa và đa thanh, mà ông gọi là nguyên lí “tảng băng trôi” có một phần nổi và 7 phần chìm, mang hàm nghĩa và triết lí sâu xa, thú vị.


Tiểu thuyết “Ông già và biển cả


- Tóm tắt

Lão chài Xanchiagô sống cô độc trong một túp lều trên bờ biển ngoại ô thành phố LaHabana. 84 ngày đêm ra khơi gặp vận xúi quẩy, đi đi về về chẳng câu được một con cá nào. Lần này ông lại ra khơi, đưa thuyền đến tận vùng Giếng Lớn nơi có nhiều cá nhất. Buông câu từ sáng sớm mãi đến non trưa phao câu mới động đậy. Cá mắc câu kéo chiếc thuyền chạy. Lão gò lưng, gập mình kéo lại. Từ trưa tới chiều, rồi một ngày một đêm nữa trôi qua. Bàn tay bị dây câu cứa rách nát ứa máu. Không một mẩu bánh bỏ vào bụng. Chân tê dại, tay trái bị chuột rút, mệt lả nhưng lão không chịu buông tha: “Mình sẽ cho nó biết sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu! “Sáng ngày thứ 3 cá đuối dần, lão chài dùng lao đâm chết cá, buộc cá vào đuôi thuyền, hân hoan trở về bến. Con cá nặng độ 6, 7 tấn dài hơn thuyền khoảng 7 tấc. Trong màn đêm, đàn cá mập đuổi theo chiếc thuyền, lăn xả vào đớp và rỉa con cá kiếm. Lão chài dùng mái chèo quật tới tấp vào đàn cá dữ trong đêm tối. Lão chài về tới bến, con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương. Lão nằm vật ra lều ngủ thiếp đi, “mơ thấy đàn sư tử”. Sáng hôm sau, bé Manôlin chạy sang lều rồi đi gọi bạn chài đến săn sóc ông.

- Ý nghĩa

Tiểu thuyết “Ông già và biển cả” mang vẻ đẹp nhân văn. Là bản anh hùng ca ca ngợi con người và sức lao động của con người.

Cuộc đời chỉ có sắc màu ý nghĩa: sống phải có khát vọng. Cái giá của khát vọng và hạnh phúc ở đời là thước đo tầm vóc của con người chân chính.

Phân tích ngắn gọn cảnh “Đương đầu với đàn cá dữ”

Sau 87 (84 + 3) ngày đêm ra khơi đánh cá, ông lão Xanchiagô mới câu được con cá kiếm khổng lồ, nặng độ 6, 7 tấn, dài hơn chiếc thuyền câu khoảng 7 tấc. Đói khát, mệt rã rời, đôi tay bị dây câu do cá kéo cứa rách, ứa máu. Cái giá phải trả cho một chuyến ra khơi thật đáng tự hào. Bạn chài chắc sẽ không chế giễu lão về vận xúi quẩy nữa! Lão càng tự hào về “sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu!”

Ở đời có lúc miếng ăn đã kề miệng vẫn còn bị kẻ khác giật mất! Trường hợp lão Xanchiagô mất con cá kiếm quả đúng như vậy. Trên đường giong cá về bến, lão chài lại gặp chuyện chẳng lành. Đàn cá mật đã thục mạng lao vào thuyền lão để đớp mồi. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” diễn ra vô cùng bi tráng. Lão chài bị bất ngờ, bị động hoàn toàn. Thế và lực quá chênh lệch. Cuộc chiến diễn ra giữa biển đêm. Lão chài chẳng khác nào một kẻ mù giữa vòng vây của đàn cá dữ! Chỉ có một cái chày làm vũ khí. Lão thân cô thế cô, lại bị kiệt sức sau 3 ngày 2 đêm đuổi bắt con cá kiếm mắc câu. Kẻ thù của lão chài là một đàn cá mập đông đảo, khát mồi và cực kỳ hung dữ. Cá lại được màn đêm, được sóng biển che giấu, bất ngờ xuất hiện. Đàn cá biến hóa, lão chài căng mắt nhìn chỉ thấy “những chiếc vi cá mật xẻ dọc ngang trên mặt biển và những đường lân tinh lấp lánh”. Những hàm răng cá mập táp mồi “sần sập”, lưng đàn cá dữ cuộn sóng làm cho “chiếc thuyền câu chòng chành”. Không chỉ con cá kiếm mà ngay cả lão chài cũng sẽ trở thành mồi ngon cho đàn cá dữ đói mồi! Hêminguây đặc tả lưng cá mập đội con thuyền câu đã vẽ nên một cảnh hãi hùng, đầy nguy hiểm!

Cuộc chiến đấu mỗi lúc một dữ dội. Người đọc có cảm giác là bao nhiêu cá mập ở vùng biển “Giếng Lớn” đã kéo tới bủa vây lấy chiếc thuyền câu. Lão già như bị màn đêm bịt mắt, “vụt nháo nhào lên những chiếc đầu” cá mập. Lão bị động “kháng cự một cách tuyệt vọng với một kẻ thù mà lão chỉ nghe bằng tai, bằng cảm giác “Thật bất ngờ cái chày – vũ khí chiến đấu - bị cá dữ ngoạm “giật phắt đi”. Lão Xanchiagô đâu phải là kẻ tầm thường, khoanh tay đầu hàng đàn cá mập! Thành quả lao động được làm nên bằng mồ hôi và máu, không thể nào để đàn cá dữ cướp đi. Nhanh nhẹn và dũng mãnh, lão tháo tay lái làm vũ khí chiến đấu. Cuộc chiến giữa người với đàn cá dữ ngày một trở nên dữ dội quyết liệt! Lão già lấy hết sức bình sinh, nắm chắc tay lái, thẳng cánh, vụt túi bụi ra bốn phía”. Lão chài bị đàn cá mập khép chặt vòng vây! Đàn cá dữ túm tụm lại đằng sau lái, con nọ tiếp con kia. Khi thì cả bầy một lượt, chúng đâm bổ vào xác con cá. Bầy cá dữ khát mồi không chịu rời chiếc thuyền câu “ngoạm xong một miếng quay ra rồi quay trở lại. Xác cá bị rỉa, bị đớp, bị ngoạm. Những mảnh thịt mà đàn cá mập đớp được” lấp lánh dưới nước!

Con cá kiếm khổng lồ thế mà giờ đây chỉ còn một ít thịt dính vào đầu! Con cá cuối cùng xông đến đớp vào đầu cá. Có thể nói đây là một hiệp đấu ác liệt, cá và người đánh giáp lá cà. Lão chài dũng mãnh “hoa cái tay lái lên và quật đúng vào răng hàm cá mập”. Ông lão giáng trả như vũ bão “quật liên hồi hai bận, ba bận, mười bận!”. Bất thình lình chiếc tay lái gẫy rắc, lão dũng mảnh vẫn tiếp tục quật vào đầu cá… vụt nữa làm cho “con cá mập nhả con cá và oằn mình lăn xa”.

Như người lính chiến ngoan cường trên chiến địa, đánh đến giọt máu cuối cùng, bắn đến viên đạn cuối cùng, hết đạn thì dùng lê tử chiến với giặc, lão chài Xanchiagô cũng vậy! Một mình đơn độc chống với đàn cá dữ giữa biển đêm, khi cái chày bị cá mập ngoạm mất, lão bình tĩnh và sáng suốt xử lý tháo ngay tay lái làm vũ khí. Càng đánh càng hăng, lão đã quật tới tấp vào đầu cá dữ, quật mạnh đến nỗi gãy cả mái chèo. Lão đã giáng cho con cá mập sau cùng một đòn chí mạng!

Việc đánh bắt được con cá kiếm nặng 6, 7 tấn là một chiến công! Cuộc đấu với đàn cá dữ không cân sức, thịt con cá kiếm bị đàn cá mập ngoạm sạch, đớp sạch, nhưng lão vẫn còn giữ được bộ xương cá, giữ được con thuyền câu. Câu nói của lão: “Thuyền của mình vẫn tốt nguyên và chẳng sứt mẻ một tẹo nào, trừ chiếc tay lái ra không kể. Cái đó cũng dễ thay!” - điều đó cho thấy, tuy thất trận nhưng lão chài vẫn còn tiềm lực! Nhất định lão lại ra khơi. Giữ vững niềm tin sau chiến bại không phải ai cũng có ý chí ấy! Lúc quật vào đàn cá dữ, ông lão cảm thấy một mùi kì dị trong mồm: “vừa tanh như sắt, vừa ngòn ngọt”. Mùi kỳ dị ấy là máu và cũng là dư vị cay đắng của sự thất bại! Như một sự tổng kết sau trận đánh, lão Xanchiagô nhổ toẹt máu xuống biển và nói: “Cho chúng mày nuốt đi lũ cá mật kia. Nuốt đi để tưởng tượng là vừa giết chết được một con người”. Một cái nhổ toẹt đầy khinh bỉ. Một câu nói vừa giễu cợt vừa thách thức kẻ thù! Trong chiến bại mà lão chài vẫn ngạo nghễ! Đó là tâm thế và bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” được miêu tả rất sống động.

Lão chài được đặt trong thế đối địch tương phản chênh lệch. Các chi tiết nghệ thuật được khắc họa và tái hiện chủ yếu bằng thính giác, cảm giác, xúc giác… trong biển đêm vô cùng ghê rợn và ác liệt! Người thì máu đầy mồm, cá thì lăn xả vào đớp mồi, bị quật nhừ tử. Lời đối thoại của Xanchiagô với đàn cá mập lúc thì thách thức khinh bỉ, lúc thì thừa nhận thất bại. Vốn liếng còn đó, lão chài rồi lại ra khơi. chỉ có một mình đơn phương độc mã đương đầu với đàn cá mập thế mà sau cuộc chiến, lão chài lại nói: Gió cũng là bạn tốt của ta… đôi khi cũng là bạn tốt… biển cả với những bạn hữu và kẻ thù của ta… “Gió làm căng cánh buồm. Biển có đàn cá dữ, nhưng cũng có cánh chim hiền lành, biển là nơi làm ăn của lão và các bạn chài. Cách nghĩ của lão chài mộc mạc, bình dị nhưng ham sống biết bao.

Ở đời cái đáng sợ là không nhận diện được kẻ thù. Cái đáng sợ nữa không phải là sự thất bại mà là chưa biết tìm ra nguyên nhân thất bại. Ở đây, lão chài Xanchiagô tự nói với mình: “Ta thử nghĩ xem cái gì đã làm cho ta thất bại nhỉ? Không, không có cái gì cả. Ta đã đi xa quá! Đó là phần ngầm của “tảng băng trôi” mà Hêminguây muốn gửi gắm bạn đọc: Mọi khát vọng đều đẹp, đều đáng yêu. Khát vọng quá lớn, vượt xa khả năng hiện thực thì sẽ thất bại. Hình ảnh lão chài Xanchiagô trong cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” này cho ta bài học về sức mạnh, khí phách và niềm tin trong lao động và - cuộc sống. 

(Sưu tầm)